CÔNG
TRÌNH XÂY DỰNG CỰC LẠC GIỚI TỰ
Nhân duyên
hình thành:
Cực Lạc
Giới tự được xây dựng từ một Nhân duyên hy hữu khi một
vị Sư người Thái biết tâm nguyện tu học và làm việc của
chúng tôi nên đã phát tâm cúng dường khu đất rộng khoảng
20 Acre tại Chiangmai, miền Bắc Thái Lan. Nơi đây do khí hậu
ôn hoà, không lạnh lắm vào mùa đông, không nóng lắm vào
mùa hè và với cảnh vật trong rừng núi, khu đất có thác,
có suối, có thung lũng và những dãy đồi, nên chúng tôi thiết
nghĩ là ngoài thời gian và sự phát nguyện nhập thất tu tập
cho riêng mình, nơi đây cũng sẽ biến thành một nơi chuyên
tu cho hàng phật tử, nhất là các vị chuyên tu về pháp môn
Tịnh độ.
Thiết
kế xây dựng:
Sau khi nghiên
cứu tất cả các mô hình kiến trúc, có thể nói kiến trúc
Phật giáo Nhật bản là kiến trúc có nghệ thuật và nét
mỹ quan cao nhất, do vì nền văn hoá Nhật bản trong nhiều
thế kỷ đã chịu ảnh hưởng sâu xa của Phật giáo qua các
sinh hoạt hàng ngày như uống trà, cắm hoa, cho đến việc
bắn cung, tạo vườn, đâu đâu cũng thấy hình bóng thiền
vị của Phật giáo. Các vị thiền sư Nhật bản đã biết
dung hợp giữa cái cái tĩnh và động, giữa thiên nhiên vạn
vật bên ngoại và nội tâm sâu thẳm bên trongi, cho nên đối
với người Nhật thiền là một nghệ thuật sống, là thế
giới rỗng rang nhưng gồm thâu mọi triết lý thâm huyền về
cái nhìn, cái nghe, sự phản chiếu và tỉnh thức tự nội.
Kiến trúc
chùa chiền và tạo cảnh theo phong cách Nhật không đòi hỏi
nhiều màu sắc, rườm rà và phức tạp mà trên hết sử dụng
tất cả những gì thiên nhiên hiện có chung quanh, với ánh
sáng và bầu trời trong xanh, với những lá cây, viên đá,
hòn sỏi, với những bãi cỏ và rong, rêu, phủ trên cách lối
đi, bờ suối. Trong thế giới nội tâm, cảnh vật thiên nhiên
sẽ đưa con người đến gần hơn sự tĩnh lặng, an lạc và
giác ngộ.
Thế giới
cảnh quan:
Nhằm tăng
trưởng thượng duyên cho chính mình và những vị chuyên hướng
tu theo tịnh độ cầu vãng sanh, tu viện Cực Lạc Giới sẽ
được thiết kế dựa theo kinh A Di Đà với những lời trong
kinh đức Phật thuyết như sau: Nơi cảnh giới Cực Lạc trang
nghiêm có ao thất bảo, trong ao có các loại sen Xanh, sen vàng,
sen đỏ và sen trắng hương thơm tinh khiết, lại nơi đây
cũng có bảy hàng lan can, 7 hàng lưới giăng, 7 hàng cây báu
đẹp đẽ trang nghiêm, có tiếng chim thuyết pháp, âm thanh
vi diệu, ngày đêm sáu thời đều được nghe tiếng niệm
Phật, niệm Pháp và niệm Tăng. v.v...
Trong một
cảnh trạng trang nghiêm và thanh tịnh như vậy, tâm phiền
trược, vọng động của chúng ta có lẽ sẽ được gột rửa
đi nhiều để thâm nhập các giáo pháp mầu nhiệm của chư
Phật.
Theo nhân
duyên hình thể khu đất sẳn có, một khu vực ao hồ rộng
lớn được thiết kế và trong hồ có các hoa sen màu xanh,
sen màu vàng, sen màu đỏ và sen màu trắng,. 9 đoá sen này
cũng là biểu tượng của 9 phẩm liên hoa từ hạ phẩm hạ
sanh cho đến Thượng phẩm thượng sanh. Chánh điện chính
toạ lạc nơi ven hồ là tâm điểm của cảnh giới Tịnh độ,
nơi chư Phật và chư đại Bồ tát ngự tọa. Chánh điện
này gồm có 4 cánh, xoay về bốn hướng, mỗi cánh là một
điện thờ cùng với bên trong đại điện nơi chính giữa
an trí tôn tượng 4 thân Phật A Di Đà tiếp dẫn xoay về bốn
hướng,
cùng với các Mạn Đà La chư Phật bên trên và bên dưới
tạo thành 10 phương Tam thế Phật và chư vị Bồ tát.
Mô hình
sinh hoạt.
Qua các mặt
ưu điểm đó của mẫu mô hình kiến trúc Nhật Bản,
chúng tôi đã chọn theo phong cách này để thiết kế xây dựng
Cực Lạc Giới tự, tuy nhiên khuôn mẫu mô hình sinh hoạt,
chúng tôi lại chọn theo lối sinh hoạt trong các tu viện truyền
thống của Phật giáo Tây Tạng, ở đó trong một tu viện
thường được phân ra làm 3 hoặc 4 phân viện và một phân
viện lại được phân ra làm nhiều tăng viện với sự sinh
hoạt riêng biệt và độc lập.
Cực lạc
Giới Tự theo bản vẽ hiện nay sẽ được phân ra làm 3 khu
vực và có thể sinh hoạt độc lập. Khu vực tăng, khu vực
Ưu Bà Tắc (nam Cư Sĩ) và khu vực Ưu Bà Di (Nữ Cư Sĩ). Mỗi
khu vực đều có các dãy thất bên ngoài riêng biệt, các dãy
thất chung bên trong, có chánh điện riêng trong mỗi thất và
chánh điện chung trong mỗi khu vực. Có thư viện riêng mỗi
thất và thư viện chung trong mỗi khu vực, có nhà vệ sinh
riêng và chung, nhà bấp và phòng ăn chung của mỗi khu vực.
v.v... Như vậy với sự thiết kế và phân bố một cách hài
hoà, mỗi nhóm phật tử khi về tu viện tu tập trong ngắn
hạn hoặc dài hạn vẫn không làm ảnh hưởng động loạn
đến các chúng khác trong tu viện vì mỗi khu vực đều cách
xa nhau, có hàng rào và cổng ngăn cách, ngay cả khách vãng
lai khi viếng thăm cũng chỉ được phép thăm bên ngoài, thuộc
khu vực ngoại viện, còn các khu tu tập thuộc nội viện và
chỉ dành cho các vị đến ở nhiều tháng để huân tu.
Bên trong
Đại điện với tôn tượng Di Đà tứ hướng trang nghiệm
và rực rỡ, cao 5 m cùng với các hình ảnh của chư Phật,
tôn tượng chư Bồ tát sẽ là nơi hành trì lý tưởng cho
những vị chuyên tụng kinh, niệm Phật và thường hành trì
lễ bái chư Phật.
Chung quanh
Đại điện vào ao hồ là 3 con đường kinh hành. Đây là lối
thiết kế lấy ý từ Bồ Đề Đạo Tràng với 3 đường kinh
hành chung quanh đại tháp. Đường kinh hành thứ nhất bao quanh
đại điện dành cho hành giả khi trong hoặc sau các khoá thời
tu niệm lễ bái đến thập phương chư Phật, chư đại Bồ
tát, những vị ấy có thể nhiễu Phật kinh hành chung quanh
Đại điện và vào trong tiếp tục lễ bái. Với con đường
kinh hành xung quanh Phật điện, và xung quanh hồ, đây sẽ là
nơi tu tập dành cho các vị chuyên tu tập đi kinh hành nhiễu
Phật, nhiễu Pháp và nhiễu tăng. Đối với các vị chuyện
tu tập thiền định hoặc quán tưởng, cần sự vắng lặng,
tĩnh tâm thì các căn thất riêng biệt, điện thờ riêng biệt
là nơi lý tưởng tu tập.
Dọc theo
quanh ao hồ là các con đường kinh hành, nơi đây có 7 hàng
lan can là nơi dừng chân trong lúc quá bộ kinh hành để niệm
Phật, vãng cảnh và tĩnh tâm, đưa lòng mình trở về cùng
với cảnh vật thiên nhiên chung quanh. Lại cũng có 7 hàng lưới
giăng, ngăn che những lá cây rơi xuông hồ. 7 hàng cây báu
trong kinh Di Đà đề cập sẽ được thực hiện với 7 hàng
cây quý 7 màu sắc đem từ các nước về trồng như: cây phong,
hoa sứ, anh đào, tùng, liễu, trúc. v.v..
Hệ thống
âm thanh: Dọc theo lối kinh hành sẽ có hệ thống âm thanh
loa, dấu bên trong những phiến đá giả, có thể dùng để
sử dụng mở các giai điệu âm thanh âm vi diệu, ngày đêm
sáu thời đều vang tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
cùng các tiếng chim hót, tiếng cây rừng hay tiếng suối róc
rách..
Hệ thống
ánh sáng: Được thiết kế trên những trụ đá đèn kiểu
Nhật, đơn sơ, mộc mạc nhưng đầy nét mỹ thuật. Ngoài
ra nơi trên dưới 7 hàng cây còn được thiết kế các đèn
màu xanh, màu vàng, màu đỏ và màu trắng. Đêm tối trời
các ánh sáng 4 màu lung linh, đan chiếu lẫn nhau hoà cùng với
sự thiết kế và cảnh giới đẹp đẽ trang nghiêm của tu
viện sẽ biến nơi đây tựa như một cảnh giới Cực Lạc.
Thiết kế
vườn cảnh: Hãy đọc qua những vần thơ của các thiền sư
Nhật bản: Cái nhìn phủ khắp, cả cuộc sống này... hoặc
xem suối rì rào, nghe màu núi xanh... hay là lòng thêm lắng
dịu, càng được nghe nhiều... Với cõi lòng thư thái, bình
thản nên khi bước chân vào những cảnh vườn như thế, chúng
ta sẽ nhận ra những sự êm ái trên những phiến rêu xanh,
sự huyền bí của tinh thần và truyền thống trong những cây
đèn đá và sự chuyển biến của bốn mùa trong sắc màu của
hoa lá, cỏ cây.... Từng hạt cát, viên sỏi hay từng tảng
đá cũng làm dấy lên trong lòng người một sự tư duy về
mối tương duyên trong cuộc sống hay sự ảo hoá của kiếp
người...(vườn cảnh Nhật bản). Nếu sự thiết kế Đại
điện, nơi tôn thờ chư Phật và chư đại Bồ tát trang nghiêm
và lộng lẫy với những Phật tượng bao nhiêu, thì sự thiết
kế các khu vườn cảnh, các lối đi kinh hành, các căn thất
lại càng đơn sơ, mộc mạc và hoà hợp cùng với thiên nhiên
bấy nhiêu. Đây là tinh hoa và là những nét đặc trưng của
lối kiến trúc Nhật bản. Trong mỗi khu vực của Cực Lạc
Giới Tự đều có nhiều khu vườn cảnh khác nhau, mỗi khu
vườn cảnh là một biểu hiện của thiên nhiên trong một
hình thái hài hoà, nơi đó toát lên một sự bình dị, một
vẻ đẹp thật hoàn hảo. Giữa những căn thất với nhau là
những vườn thiền, con đường sỏi, phiến đá rêu và những
tàng cây đẹp được lựa chọn. Hay thay là trong khu đất
đã sẵn có khoảng mươi cây đại thụ nhưng lại trổ nhiều
loại hoa đẹp 5 cánh, rơi trãi kỳ diệu đầy trên các lối
đi kinh hành, các bãi cỏ xanh mướt và những con suối. .
Khu vực
Tăng thất.
Gồm có 4
căn thất riêng biệt và một sảnh điện với chánh điện,
thư viện, nhà bếp, trai đường cùng với 7 căn thất chung
trong một sảnh điện 3 tầng.
Tất cả
các căn thất riêng biệt đều có phòng ngủ nhỏ, đơn giản,
kệ đựng sác vở, đồ đạt, một chánh điển nhỏ dùng
để lễ bái, tu tập hàng ngày, một thư viên dùng để lưu
giữ kinh sách để nghiên cứu và đọc tụng, nhà vệ sinh
và phòng tắm. Tất cả các căn thất riêng đều có lối thiết
kế và trang trí tựa như nhau. Bên ngoài và ở giữa các căn
thất là những khu vườn thiền, lối đi kinh hành, cảnh quan
thiên nhiên.
Sảnh điện
trong mỗi khu vực là nơi sinh hoạt chung cho tăng sĩ hoặc nam
nữ cư sĩ trong khu vực đó. Trong 3 khu vực của tăng sĩ, Ưu
Bà Tắc, Ưu Bà Di đều có sảnh điện riêng, thư viện riêng,
nhà bếp và trai đường riêng để tiện việc tu tập, sinh
hoạt trong khu vực đó. Chư tăng, giới Ưu Bà Tắc, Ưu Bà
Di có thể thăm hỏi, qua lại nhau khi cần.
Khu vực
Ưu Bà Tắc:
Gồm có 4
căn thất với lối thiết kế và trang trí như các tăng thất,
tuy nhiên mỗi căn thất này lại có mỗi một khu vườn cảnh
riêng biệt. Trong sảnh điện có chánh điện, thư viện chung
và 7 thất phòng cùng các tiện nghi sinh hoạt như nấu nướng,
trai đường, phòng vệ sinh, tắm, giặt. v.v...
Khu vực
Ưu Bà Di:
Gồm có 7
căn thất với lối thiết kế và trang trí như các Tăng thất,
xen kẽ giữa các căn thất với nhau là những khu vườn cảnh
nho nhỏ, những bụi hoa, khóm trúc, cây cảnh và hồ sen. Trong
sảnh điện cũng có chánh điện, thư viện chung và 7 thất
phòng cùng các tiện nghi sinh hoạt như nấu nướng, trai đường,
phòng vệ sinh, tắm, giặt như bên sảnh điện Ưu Bà Tắc.
Tất cả 3 khu vực này đều được phân ra, có hàng rào bao
quanh và được xếp vào khu vực Nội viện, chỉ dành cho phật
tử đến chuyên tu hoặc các vị thường trú trong tu viện.
Khu vực
khách vãng lai:
Gồm có 2
toà nhà dùng làm nơi làm việc, lưu trú cho các khách phật
tử nam và nữ khi viếng thăm hoặc muốn tạm nghỉ lại qua
đêm. Mỗi toà nhà sẽ có 15 phòng chiếc ở tầng trên, phòng
khách gặp mặt và phòng ăn bên dưới. Đây cũng có thể dùng
làm phòng sinh hoạt chung, ăn uống hoặc hội họp cho toàn
thể tu viện hoặc các phái đoàn phật tử hành hương khi
cần.
Dự hướng
tương lai:
Khu đất
còn lại của tu viện được dự tính sẽ mở rộng tu viện
hoặc thành lập làng Di Đà trong tương lai khi nhu cầu Phật
sự thấy cần thiết mở rộng. Khu đất này rộng 12 Acre,
nằm tiếp giáp với khu đất hiện đang xây dựng Cực Lạc
Giới Tự. Nơi đây cũng có con suối chạy dài từ đầu khu
đất đến cuối, có rừng và các khoảng đất bằng phẳng.