Về
Hạnh Bố Thí
Bình
Anson
---*---
Bố
Thí là một đức hạnh cao quí thường được đề cập đến
trong cuộc sống tu tập của người con Phật, tu sĩ lẫn cư
sĩ, trong mọi tông phái Phật Giáo.
Có
lẽ đa số Phật tử chúng ta đều nghe biết nhiều về các
lời giảng trong kinh điển Bắc truyền, đều quen thuộc với
các khái niệm hành trì như Lục độ Ba-la-mật và Tứ nhiếp
pháp của hàng Bồ-Tát. Về lục độ Ba-la-mật thì gồm có
6 đức hạnh: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh Tấn, Thiền
định, và Trí tuệ. Về Tứ nhiếp pháp thì gồm có: Bố thí,
Ái ngữ, Lợi hành, và Đồng sự.
Trong
kinh điển nguyên thủy, Bố Thí là một đức hạnh tối quan
trọng mà Đức Phật thường giảng dạy và khuyên nhủ chúng
ta nên cố gắng tu tập. Tứ nhiếp pháp cũng được ghi lại
trong kinh điển. Thêm vào đó, trong khi kinh điển Bắc truyền
có ghi 6 pháp Ba-la-mật, kinh điển nguyên thủy đề cập đến
10 pháp Ba-la-mật của hàng Bồ Tát, gồm: Bố thí, Trì giới,
Xuất gia, Trí tuệ, Tinh tấn, Kiên nhẫn, Chân thật, Chí nguyện,
Từ tâm, và Xả ly. Cho nên, khái niệm về các hạnh Ba-la-mật
trong tất cả các tông phái đều rất giống nhau, đều đề
cao Bố Thí như là đức hạnh đầu tiên cần phải được
tu tập.
Ở
đây, chỉ xin trình bày tóm tắt, giới hạn trong phạm vi pháp
bố thí trong thế gian, về các lời dạy của Đức Phật cho
hàng đệ tử cư sĩ tại gia chúng ta, như đã ghi lại trong
Kinh Tạng Nikàya nguyên thủy.
*
"Bố
Thí" là chữ Hán Việt, gồm chữ "Bố" và chữ "Thí".
"Bố" là bày ra, ban rộng ra, trải đều ra; như trong những
chữ: ban bố, phân bố, tuyên bố, công bố, bố trí, bố cục,
bố cáo, bày binh bố trận. "Thí" còn đọc một âm khác là
"Thi", nghĩa là thực hiện, áp dụng, làm ra; như trong những
chữ: thí nghiệm, thí điểm, thí công (thi công)
"Bố
thí" có nghĩa là làm cho rộng ra, trải rộng ra, phân chia cùng
khắp. Từ đó, Bố Thí mang một ý nghĩa là: chia xẻ, san sẻ.
Tiếng Anh thường dịch là Giving, Donating, hay Sharing.
Trong tiếng Pàli (Phạn ngữ), Bố Thí là Dàna, hay Càga.
"Dàna"
thường được phiên âm là "Đàn-na", có khi chỉ gọi tắt
là "Đàn", như trong cụm từ "Đàn Ba-la-mật", có nghĩa là
"Đàn-na Ba-la-mật", "Dàna Pàrami", hay là hạnh Ba-la-mật
về sự Bố Thí.
Trong
kinh sách, đôi khi chúng ta thấy có sự dùng chữ kết hợp
âm tiếng Phạn và tiếng Hán. Thí dụ như chữ "Đàn chủ":
Đàn là từ chữ Phạn "Dàna", Chủ là tiếng Hán. Đàn
Chủ là người đứng ra thực hiện việc bố thí cúng dường,
tiếng Pali là "Dànapati".
"Đàn
chủ" cũng còn được gọi là "Thí Chủ". Chữ "Thí" ở đây
là nói tắt từ chữ "Bố Thí". Trong thuật ngữ Phật học,
chữ "Thí" không còn mang nghĩa đen là "làm, thực hiện, hành
động", mà thường được hiểu như là chữ tắt của "Bố
Thí". Ngoài chữ "Thí Chủ", chúng ta thường thấy các chữ
khác như là: Đàn-na tín thí, nhà thương thí, thí thực, thí
cô hồn, tài thí, pháp thí, niệm thí, v.v. Tất cả đều có
hàm chứa ý nghĩa "Bố Thí".
*
Trong
Trường Bộ, kinh 33; trong Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương
Ba Pháp; và trong Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Đức Phật
có dạy 3 pháp hành để tạo căn bản phước báu trên đường
tu tập. Đó là: Bố thí (Dàna), Trì giới (Sìla), và Tu thiền
(Bhàvanà): "Này các Tỳ-khưu, có ba phước nghiệp sự này.
Đó là: Phước nghiệp sự do bố thí tác thành, phước nghiệp
sự do giới tác thành, và phước nghiệp sự do tu thiền tác
thành".
Bố
thí là một trong 3 hạnh kiểm được người hiền trí, bậc
thiện nhân tán thán. Đó là: Bố thí, Xuất gia, và Phụng
dưỡng cha mẹ. "Xuất gia" (pabbajjà) ở đây có ý nghĩa là
sự thiểu dục, sự thoát ly điều bận rộn phiền não, thọ
trì pháp không não hại, sống chế ngự, điều phục và hòa
hợp. Trong Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Đức Phật dạy: "Này
các Tỳ-khưu, có ba pháp được người Hiền trí tuyên bố,
được bậc Chân nhân tuyên bố. Đó là: Bố thí, Xuất gia,
và Hầu hạ cha mẹ."
Bố
thí cũng là một trong bốn pháp để thu phục nhân tâm, chung
sống hài hòa trong gia đình cũng như trong Tăng chúng và trong
xã hội. Tăng Chi Bộ, Chương 4 Pháp, có ghi lại lời khuyên
của Đức Phật như sau:
-
Này các Tỳ-khưu, có bốn nhiếp pháp này. Thế nào là bốn?
Bố
thí và ái ngữ,
Lợi
hành và đồng sự
Hỡi
các vị Tỳ-khưu,
Ðây
là bốn nhiếp pháp.
Bố
thí và ái ngữ,
Lợi
hành và đồng sự,
Ðối
với những pháp này,
Ở
đời đối xử nhau,
Chỗ
này và chỗ kia,
Như
vậy thật tương xứng.
Và
bốn nhiếp pháp này,
Như
đỉnh đầu trục xe,
Nếu
thiếu nhiếp pháp này,
Thời
cả mẹ lẫn cha
Không
được các người con
Tôn
trọng và cung kính..
Do
vậy bậc Hiền trí,
Ðồng
đẳng nhìn nhiếp pháp
Nhờ
vậy họ đạt được,
Sự
cao lớn, tán thán.
Trong
truyền thống Nam tông, một trong những bài kinh mà chúng ta
thường được nghe tụng đọc là kinh Đại Hạnh Phúc (Mahà-Mangala
Sutta), thuộc Kinh Tập, Tiểu Bộ. Trong bài kinh nầy, Đức
Phật giảng rằng Bố thí là một trong 38 điều mang lại hạnh
phúc tối thượng cho người cư sĩ tại gia chúng ta. Đức
Phật còn cho biết rằng Bố thí là một trong ba yếu tố để
biết được một người có lòng tin trong sạch nơi Chánh Pháp,
như đã ghi lại trong Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp:
"Do
ba sự kiện, này các Tỳ-khưu, một người được biết là
có lòng tin. Thế nào là ba? (1) Ưa thấy người có giới hạnh,
(2) ưa nghe diệu pháp, (3) với tâm ly cấu uế của xan tham,
sống trong nhà, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa
thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, thích phân phát
vật bố thí."
Một
người bố thí trong sạch như thế, theo lời Đức Phật, sẽ
tạo được một tài sản rất lớn, không bao giờ bị lửa
đốt cháy, lụt làm trôi mất, bị ăn trộm, bị chánh quyền
tịch thu, hay bị kẻ thù địch lấy đi mất. Tài sản phước
báu do hạnh Bố Thí tạo ra là một trong 7 loại tài sản cao
quí nhất - gọi là thánh tài - mà chúng ta có thể tích lũy
được. Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ, ChươngBảy Pháp:
Này
các Tỳ-khưu, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy? Tín
tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
(...) Và này các Tỳ-khưu, thế nào là thí tài? Ở đây, này
các Tỳ-khưu, vị Thánh đệ tử với tâm từ bỏ cấu uế
của xan tham, sống tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở,
ưa thích xả bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích
san sẻ vật bố thí. Này các Tỳ-khưu, đây gọi là thí tài.
Bố
Thí cũng được xem là một loại hương thơm cao quý, tỏa
ra cùng khắp, theo mọi hướng, tạo ra nhiều tiếng lành, danh
thơm cho xóm làng hay cộng đồng nơi chúng ta sinh hoạt. Trong
Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Ngài Ananda hỏi Đức Phật:
-"Bạch
Thế Tôn, loại cây hương gì có mùi hương bay thuận gió,
có mùi hương bay ngược gió, có mùi hương bay thuận gió lẫn
ngược gió?
Đức
Phật trả lời:
-"Ở
đây, này Ananda, tại làng nào hay tại thị trấn nào, có nữ
nhân hay nam nhân quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, tuân
giữ 5 giới, tâm tánh hiền lương, sống trong nhà với tâm
không nhiễm xan tham, bố thí không luyến tiếc với tay rộng
mở, thích thú từ bỏ, sẵn sàng được yêu cầu, ưa thích
chia xẻ đồ bố thí. Người như vậy, được các Sa-môn,
Bà-la-môn, Chư Thiên và các phi nhân đều tán thán. Và như
thế, người đó là loại cây hương quý. Cây hương đó, này
Ananda, có mùi hương bay thuận gió, có mùi hương bay ngược
gió, có mùi hương bay thuận gió lẫn ngược gió".
*
Tuy
nhiên, hạnh Bố Thí không phải là một điều dễ thực hiện
như nhiều người thường hiểu lầm. Đây là một pháp môn
tu tập đòi hỏi chúng ta phải tinh tấn, có chánh niệm và
trí tuệ.
Trước
hết, Đức Phật dạy rằng khi bố thí, chúng ta phải biết
nhận thức rõ ràng về vật cho, cách cho, và tâm ý cho. Trong
Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Ngài dạy:
"Này
các Tỳ-khưu, có tám sự bố thí của bậc chân nhân. Thế
nào là tám? Cho vật trong sạch; cho vật thù diệu; cho đúng
thời; cho vật thích ứng; cho với sự cẩn thận; cho luôn
luôn; khi cho, tâm tịnh tín; sau khi cho, tâm luôn hoan hỷ".
Như
thế, khi bố thí, vật cho phải là vật trong sạch, vật thù
diệu, vật thích ứng; cách cho phải là cho đúng thời, cho
với sự cẩn thận, cho luôn luôn; và tâm ý cho phải là tâm
tịnh tín khi cho, tâm luôn hoan hỷ sau khi cho.
Trong
Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Đức Phật dạy: "Có năm
loại bố thí xứng đáng bậc chân nhân: bố thí có lòng tin;
bố thí có kính trọng; bố thí đúng thời, bố thí với tâm
không gượng ép; bố thí không làm thương tổn mình và người."
Ngài cũng dạy về năm loại khác là: "Có năm loại bố
thí xứng đáng bậc chân nhân: bố thí có lòng cung kính; bố
thí có suy nghĩ; bố thí tự tay mình; bố thí đồ không quăng
bỏ; bố thí có suy nghĩ đến tương lai".
Về
bố thí cho đúng thời, Đức Phật nêu rõ có 5 loại:
-
Bố thí cho người mới đến trú xứ của chúng ta.
-
Bố thí cho người sắp ra đi, rời khỏi trú xứ của chúng
ta.
-
Bố thí cho người đau bệnh.
-
Bố thí trong thời đói.
-
Phàm những hoa quả gì mới gặt hái được, dành chúng đầu
tiên để cúng dường các bậc giữ giới hạnh.
Nếu
được như thế, hạnh Bố Thí sẽ mang lại các lợi ích:
"Tùy theo vật bố thí, tùy theo cung cách bố thí, kết quả
sẽ đưa đến cho người bố thí với tài sản sung mãn, với
dung sắc thù thắng như hoa sen, với vợ con, các người làm
công tận tụy phục vụ tuân hành, với các vật dụng đến
đúng thời, đúng lúc, với năm dục công đức được thọ
hưởng đầy đủ, và với các tai nạn không hề xảy đến."
Trong
các đoạn kinh khác, Đức Phật dạy thêm về các lợi ích
khác:
"Này
các Tỳ-khưu, có năm lợi ích này của bố thí. Thế nào là
năm?
-
Được nhiều người ái mộ, ưa thích;
-
Được bậc thiện nhân, chân nhân thân cận;
-
Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi,
-
Không có sai lệch khi thuyết pháp;
-
Khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cỏi lành thiên giới."
Về lợi
ích của bố thí thực phẩm: "Người bố thí bữa ăn, này
các Tỳ-khưu, sẽ được hưởng năm kết quả: sống thọ,
sắc diện tươi đẹp, sống an lạc, có sức khỏe, có biện
tài".
Thêm
vào đó, theo Chú Giải, để có kết quả to lớn, sự bố
thí phải hội đủ 3 điều kiện thành tựu:
1.
Thành tựu ruộng phước (khettasampatti), tức là nói đến
đối tượng thí, người thọ thí là bậc chánh hạnh, bậc
hội đủ các ân đức đặc biệt.
2.
Thành tựu vật thí (deyyadhammasampatti), tức là có vật
thí đầy đủ, hợp pháp, thanh tịnh và thích hợp lợi ích
cho người nhận.
3.
Thành tựu tâm ý (cittasampatti), tức là tác ý bố thí
có đầy đủ, có tâm tịnh tín, có tâm hoan hỷ trong ba thời:
trước khi làm, đang khi làm và sau khi làm.
*
Có
2 loại bố thí: bố thí tài vật (tiền bạc, thức ăn, vật
dụng) và bố thí pháp (giáo pháp, các điều hay, lẽ phải).
Trong 2 loại nầy, bố thí pháp là cao quý và có nhiều lợi
lạc hơn, như đã dạy trong Kinh Pháp cú (354): "Bố thí Pháp
là cao thượng hơn tất cả các pháp bố thí khác".
Trong
Kinh Phật Thuyết Như Vậy (kinh số 98), Đức Phật dạy: "Có
hai loại bố thí: Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Trong đó,
bố thí Pháp là bố thí tối thượng. Có hai sự phân phát:
Phân phát tài vật và phân phát Pháp. Trong đó, phân phát Pháp
là phân phát tối thượng. Có hai loại giúp đỡ: giúp đỡ
bằng tài vật và giúp đỡ bằng Pháp. Trong đó, giúp đỡ
bằng Pháp là giúp đỡ tối thượng."
Trong
Tăng Chi Bộ, Chương Một Pháp: "Có hai loại bố thí: Bố
thí tài vật và bố thí Pháp. Trong đó, bố thí Pháp là tối
thắng."
Trong
Tương Ưng Bộ, Tập I, Chương I, có ghi lại câu chuyện trong
một đêm nọ, một vị thiên tử đến hỏi Đức Thế Tôn:
Cho
gì là cho lực?
Cho
gì là cho sắc?
Cho
gì là cho lạc?
Cho
gì là cho mắt?
Cho
gì cho tất cả?
Xin
đáp điều con hỏi?
Đức
Thế Tôn trả lời:
Cho
ăn là cho lực,
Cho
mặc là cho sắc,
Cho
xe là cho lạc,
Cho
đèn là cho mắt.
Ai
cho chỗ trú xứ,
Vị
ấy cho tất cả.
Ai
giảng dạy Chánh Pháp,
Vị
ấy cho bất tử.
Cũng
cần ghi nhận ở đây là có nhiều người thường than phiền
rằng vì điều kiện sinh hoạt làm ăn khó khăn, hay vì hoàn
cảnh gia đình, nên họ không có dư tiền của để thực hiện
hạnh bố thí. Tuy nhiên, đó chỉ là các bố thí tài vật.
Đức Phật có dạy rằng nếu người nào giữ lòng tịnh tín,
quy y Tam Bảo và giữ tròn 5 giới căn bản, thì đó là đại
bố thí, và là nguồn công đức vô lượng cho chúng sinh, vì
người ấy mang lại sự an vui, thương yêu hài hòa đến cho
mọi người, mọi loài sống chung quanh người ấy. Trong Tăng
Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Đức Phật dạy:
"Có
tám nguồn nước công đức này, là nguồn nước thiện, món
ăn cho an lạc, làm nhân sanh Thiên, quả dị thục an lạc, đưa
đến cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả ý, hạnh
phúc, an lạc. Đó là:
-
Quy y Phật, Pháp, Tăng là 3 nguồn nước đầu;
-
5 nguồn nước kế là giữ tròn 5 giới căn bản. Đó cũng
là 5 đại bố thí, bởi vì làm được như thế, sẽ đem cho
sự không sợ hãi (vô úy) cho vô lượng chúng sanh, đem cho
sự không hận thù cho vô lượng chúng sanh, đem cho sự không
hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng sanh,
không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được
san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại."
Cũng
xin ghi nhận thêm là trong vài tài liệu kinh sách phát triển
về sau nầy, ngoài Bố thí Tài và Bố thí Pháp, còn có đề
cập đến một loại thứ ba là Bố thí Vô úy, tức là mang
đến, san sẻ sự không sợ hãi, không hận thù, không hại.
Theo thiển ý, có thể xem Bố thí Vô úy là kết quả của
Tài thí và Pháp thí, không cần phải tách ra thành một phân
loại riêng biệt.
*
Nếu
chỉ thực hành hạnh Bố Thí không thôi thì cũng chưa tròn
đủ. Trong Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Ngài Xá Lợi Phất
có dạy ông Cấp Cô Độc rằng cúng dường, bố thí tứ vật
dụng, tuy tạo nhiều phước báu, nhưng cũng chưa đủ. Người
cư sĩ còn phải gắng tu tập thiền định, để được hỷ
lạc do tâm xả ly sinh ra. Lời khuyên nầy được Đức Phật
đồng ý và khen ngợi.
Do
đó, kinh điển nguyên thủy còn ghi lại việc thực hành pháp
quán niệm về lòng Bố Thí, hay "Niệm Thí", như là một trong
6 pháp tùy niệm cần phải tu tập. Trường Bộ, kinh 34, có
ghi:
"Thế
nào là sáu pháp cần phải tu tập? Đó là sáu tùy niệm xứ:
Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giới tùy niệm,
Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm. Ðó là sáu pháp cần phải
tu tập."
Và
Đức Phật giải thích thêm cho ông Mahànàma về niệm Thí
như sau (Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp):
"Này
Mahànàma, Ông hãy niệm Thí như sau: "Thật là được lợi
cho ta! Thật là khéo được lợi cho ta! Vì rằng với quần
chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia đình,
với tâm không bị cấu uế của xan tham chi phối, bố thí
rộng rãi, với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng,
để được yêu cầu, ưa thích phân phát vật bố thí".
Này
Mahànàma, trong khi vị Thánh đệ tử tùy niệm Thí, tâm của
vị ấy không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh,
tâm không bị si ám ảnh; trong khi ấy, tâm được chánh trực
nhờ duyên Thí. Vị Thánh đệ tử, này Mahànàma, với tâm
chánh trực, có được nghĩa tín thọ, có được pháp tín
thọ, có được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có hân hoan,
hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm
giác lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Này
Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt
được bình đẳng với chúng sanh không bình đẳng, sống đạt
được vô sân với chúng sanh có sân, nhập được dòng lưu
của Chánh Pháp, và tu tập tùy niệm Thí."
Trong
Tăng Chi Bộ, Chương Một Pháp, ngoài 6 đề mục quán niệm
nêu trên, còn ghi thêm 4 đề mục khác là niệm Hơi thở, niệm
Chết, niệm Thân, và niệm Tịch tịnh, như sau:
"Có
một pháp, này các Tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho
sung mãn, đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt,
an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là
gì? Chính là niệm Phật... niệm Pháp... niệm Tăng... niệm
Giới... niệm Thí... niệm Thiên... niệm Hơi thở... niệm Chết...
niệm Thân... niệm Tịch tịnh. Chính một pháp này, này các
Tỳ-khưu, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến
nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng
trí, giác ngộ, Niết-bàn".
Xin
giải thích tóm tắt:
1.
Niệm Phật (buddhànussati) là niệm tưởng mười
ân đức của Phật.
2.
Niệm Pháp (dhammànussati) là niệm tưởng sáu ân
đức của giáo pháp.
3.
Niệm Tăng (sanghànussati) là niệm tưởng chín ân
đức của Tăng chúng.
4.
Niệm Giới (sìlànussati) là niệm tưởng giới
thanh tịnh của mình.
5.
Niệm Thí (càgànussati) là niệm tưởng hạnh bố
thí xả tài của mình.
6.
Niệm Thiên (devatànussati) là niệm tưởng các công
hạnh tác thành chư thiên và xét lại công hạnh mình có.
7.
Niệm Chết (maranàsati) là suy niệm sự chết đã,
đang và sẽ đến với chúng sanh luôn cả ta, để làm cho tâm
không dể duôi.
8.
Niệm Thân hành (kàyagatàsati) là suy niệm thân
này cho thấy rằng bất tịnh, uế trược, ổ bệnh tật, khả
ố, thực tính thân này là như vậy, v.v. để từ bỏ sự
luyến ái.
9.
Niệm Hơi thở (ànàpànàsati) là niệm về hơi
thở vô, hơi thở ra, để trừ sự phóng tâm.
10.
Niệm Tịch tịnh (upasamànussati) là suy niệm trạng
thái Niết-bàn, nơi không còn phiền não và đau khổ, một
trạng thái vắng lặng tuyệt đối.
Để
tu tập về pháp quán niệm lòng Bố Thí, có thể xem thêm các
hướng dẫn chi tiết của ngài Luận sư Phật Âm (Buddhaghosa)
trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga), do Ni sư Trí
Hải dịch Việt, ở Chương VII, đoạn viết về Niệm Thí.
*
Tóm
lại, Bố Thí là một đức hạnh cao quý mà Đức Phật khuyên
tất cả Phật tử chúng ta cần phải tu tập. Bố thí có 2
loại: Bố thí Tài và Bố thí Pháp, trong đó, Bố thí Pháp
là cao thượng hơn. Khi bố thí, chúng ta phải có chánh niệm
và trí tuệ để nhận thức rõ ràng về vật bố thí, cách
thức bố thí, đối tượng nhận bố thí, và tâm ý của chúng
ta khi làm chuyện bố thí. Bố thí cần phải phát nguồn từ
lòng tịnh tín nơi Tam Bảo và tròn đủ giới hạnh để đem
lại sự an vui đến cho muôn loài. Cuối cùng, chúng ta cần
phải hành thiền, trong đó, quán niệm về lòng Bố thí là
một pháp môn quan trọng cần phải được tu tập.