Bệnh
Tim Mạch
Trong mười năm
qua, số người chết ở Hoa Kỳ vì bệnh tim mạch tương đối
đã bớt đi, phần lớn nhờ vào những thay đổi lối sống
hàng ngày của người dân, chương trình giáo dục quốc gia
về cholesterol của chính phủ và những tiến bộ trong cách
trị liệu bệnh nghẽn mạch vành tim (coronary artery disease)
và bệnh tai biến mạch máu não (stroke), như là kỹ thuật
giải phẫu ráp nối mạch vành tim (coronary artery bypass surgery).
Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, bệnh nghẽn mạch vành tim vẫn dẫn đầu
về nguyên nhân làm chết người và bệnh tai biến mạch máu
não vẫn đứng hàng thứ ba. Người viết gọi chung các bệnh
nghẽn mạch vành tim, nhồi máu cơ tim (heart attack), bệnh tai
biến mạch máu não hay nhồi máu não (stroke), bệnh suy tim (congestive
heart failure), bệnh nghẽn mạch máu chân, và bệnh cao huyết
áp là bệnh tim mạch.
Chắc có lẽ bạn
đã biết về tầm mức quan trọng của cholesterol trong máu
và sự tác dụng của chất mỡ béo (fat) và chất xơ (fiber)
ảnh hưởng đến hàm lượng cholesterol và mức độ nguy cơ
lâm bệnh tim mạch. Nhưng phần lớn chúng ta không biết đến
chất dinh dưỡng khác ngoài chất mỡ béo và chất xơ. Loại
protein chúng ta ăn có thể xác định chúng ta bị những bệnh
liên hệ đến tim mạch hay không, và protein đậu nành giúp
chúng ta giảm lượng cholesterol như thế nào.
Bệnh Tim Là Gì?
Trái tim của bạn
có kích thước bằng một nắm tay. Nó có nhiệm vụ bơm máu
đến tất cả các mạch máu trong cơ thể hầu liên tục cung
cấp máu tươi mang theo chất dưỡng khí (oxygen) và những chất
dinh dưỡng tới các bộ phận cơ thể. Sau khi giao dưỡng khí,
máu trở về phổi tiếp nhận dưỡng khí mới. Lẽ dĩ nhiên,
giống như các bắp thịt khác, trái tim cũng cần cho chính
nó dưỡng khí và các chất dinh dưỡng, mà nó lấy từ dòng
máu lưu chuyển qua hệ thống mạch vành tim (coronary arteries).
Chuyển động bóp nhả của trái tim để bơm máu gọi là nhịp
đập (heartbeat). Trung bình một ngày 24 giờ, nhịp tim đập
của bạn là 100.000 lần. Trong suốt 70 năm sống của bạn,
trái tim thân yêu của bạn phải đập liên tục không ngừng
nghỉ 2 tỷ 500 triệu lần (2.500.000.000).
Khi chúng ta ra
đời, toàn bộ hệ thống mạch máu của chúng ta sạch sẽ,
máu luân lưu dễ dàng và trái tim bơm máu làm việc bình thường.
Dần dà theo thời gian, mạch máu chúng ta bị chất mỡ béo
và cholesterol xấu bám và tích tụ vào bờ thành xung quanh mạch
máu, làm mạch máu nhỏ hẹp lại và do đó trái tim phải bơm
mạnh hơn và áp xuất máu gia tăng, đây gọi là áp huyết
cao (high blood pressure), và là yếu tố chính (major risk factor)
trong các yếu tố nguy hiểm đến bệnh tim mạch.
Nếu mạch máu
bị ngăn cản hoàn toàn, máu không thể lưu thông được. Các
bộ phận cơ thể tùy thuộc vào các mạch máu này để tiếp
nhận dưỡng khí và các chất dinh dưỡng do máu đem đến
sẽ chết. Khi một phần của bộ phận tim không nhận đủ
dưỡng khí, phần bộ phận đó chết và bệnh nhồi máu cơ
tim xảy ra (heart attack).
Tiến trình làm
cứng và nghẽn các mạch máu bởi cholesterol và các chất mỡ
béo được gọi là tiến trình xơ cứng động mạch (atherosclerosis).
Ðây là một tiến trình phức tạp, có lẽ bắt đầu với
mức lượng cao của cholesterol trong máu tạo nên một số hư
hại cho xung quanh bờ thành mạch máu. Hút thuốc lá cũng góp
phần vào tiến trình này.
Ở các quốc gia
Tây phương, những người già thường hay bị xơ cứng động
mạch. Tuy nhiên có một số quốc gia khác trên thế giới,
nơi mà có chế độ dinh dưỡng khác với người Tây phương
lại không. Các khoa học gia cho biết rằng ở Hoa Kỳ, tiến
trình xơ cứng động mạch bắt đầu từ lúc còn trẻ. Trong
cuộc chiến tranh Triều Tiên, các nhà khoa học đã giải phẫu
gần 2.000 quân nhân Mỹ tử thương để nghiên cứu về các
vết thương chiến tranh. Họ lấy làm ngạc nhiên khi thấy
ba phần tư binh lính tử trận này, có tuổi trung bình là 22,
đều có tình trạng xơ cứng động mạch. Giai đoạn bắt
đầu của tiến trình xơ cứng động mạch cũng tìm thấy
ngay ở trẻ em. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi thấy
thống kê cho hay là 45 phần trăm các nạn nhân bị bệnh nhồi
máu cơ tim (heart attack) là những người dưới 65 tuổi.
CHOLESTEROL Và Bệnh
Tim Mạch
Nhờ cuộc Chiến
Tranh Thế Giới Thứ Hai người ta đã khám phá ra rằng tại
những nước, vì thiếu thịt và các thực phẩm có nguồn
gốc từ thịt đành phải ăn rau đậu thì lại có tỷ xuất
chết về bệnh tim mạch thấp.
Vì cuộc quan sát
này mà các nhà khoa học đã phát khởi những cuộc nghiên
cứu sâu rộng khác về sự liên hệ giữa việc dinh dưỡng
và bệnh tim mạch. Một công trình nghiên cứu lớn nhất thế
giới được thực hiện từ năm 1949 và vẫn còn tiếp diễn
đến ngày nay với 5.000 người nam và người nữ tham dự ở
Framingham, thuộc bang Massachusetts. Trong số những kết quả
được công bố là những người đàn ông 50 tuổi có lượng
cholesterol cao hơn 295 mg/dl có mức độ nguy cơ lâm bệnh nhồi
máu cơ tim (heart attack) nhiều hơn 9 lần những người có lượng
cholesterol 200 mg/dl. Ngoài ra, họ không tìm thấy một người
nào có lượng cholesterol dưới 150 bị bệnh nhồi máu cơ tim.
So sánh với Hoa
Kỳ, nơi mà tỷ xuất tử vong về bệnh tim mạch là một phần
hai, tại thành phố Thượng Hải (Sanghai) Trung Hoa, tỷ xuất
tử vong về bệnh tim mạch chỉ có một phần mười lăm. Trung
bình cholesterol tại Thượng Hải là 165, so sánh với Hoa Kỳ
là 200.
Cũng nên biết,
ở Hoa Kỳ, hơn 100 triệu người có hàm lượng cholesterol cao
trên 200, với phân nửa những người này có hàm lượng trên
240. Thêm vào đó có 26 triệu trẻ em có mức lượng cao hơn
bình thường của lứa tuổi. Theo Drs. M.S. Brown and J.L. Goldstein,
khôi nguyên Nobel Prize về cholesterol thì hàm lượng trung bình
tự nhiên của cơ thể trong khoảng từ 100 đến 150 mg/dl. Mức
cholesterol này được thấy nơi những vùng dân số có chế
độ dinh dưỡng ít chất béo và nhiều chất xơ.
Nhưng tổng cộng
hàm lượng cholesterol trong máu mới chỉ cho thấy một phần.
Thực tế chúng ta có loại cholesterol xấu, có loại cholesterol
tốt. Chúng tôi sẽ trình bày rõ ràng sau đây.
Có Mấy Loại
CHOLESTEROL?
Cholesterol là một
chất giống như chất béo, hoặc chất sáp (wax), đóng một
vai trò quan trọng trong việc kiến tạo các tế bào và sản
xuất một số kích thích tố (hormone) và vitamin D. Bởi vì
tính chất của cholesterol giống như chất béo, tự nó không
thể lưu thông được trong dòng máu nên phải nhờ một loại
protein để chuyên chở. Ðó là lipoprotein. Hỗn hợp protein,
chất cholesterol, và chất béo được gọi tên chung là lipoprotein.
Một số lipoprotein
được gọi là HDL (High-Density Lipoprotein), và một số được
gọi là LDL (Low Density Lipoprotein), tùy thuộc tỷ trọng của
hỗn hợp lipoprotein thấp hay cao.
Hai loại này rất là khác
biệt nhau về nhiệm vụ. LDL chuyển vận cholesterol tới các
mô cơ thể. Nếu bạn có nhiều LDL cholesterol, bạn sẽ có
cholesterol nổi bềnh bồng trong dòng máu, mà nó có khuynh hướng
thích kết tụ xung quanh bờ thành các mạch máu tạo nên tình
trạng xơ cứng động mạch. Hàm lượng LDL cholesterol càng
cao càng nguy hiểm cho các bệnh tim mạch, ngay cả ở lứa tuổi
còn trẻ. Ngược lại, HDL mang cholesterol trở về gan, để
gan phá vỡ và loại bỏ ra khỏi cơ thể hay tái sử dụng.
Thực tế, HDL kéo cholesterol ra khỏi bờ thành xung quanh các
mạch máu về gan để thải hồi. Vì thế, HDL cholesterol là
loại cholesterol tốt có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim mạch.
Nếu tổng số
lượng cholesterol ở mức trung bình hay thấp hơn thì tốt,
nhưng điều quan trọng là nên so sánh hai con số HDL và LDL.
HDL cao và LDL thấp vẫn luôn luôn tốt hơn.
Phần lớn cholesterol,
khoảng 80% tức khoảng 1000 mg hàng ngày, là do gan sản xuất
ra bằng cách kích thích chất béo bão hòa [saturated fats]. Việc
gan kích thích chất béo bão hòa để sản xuất ra cholesterol
giúp ta thấy được một điều là khi chúng ta dùng một loại
thực phẩm tuy không có cholesterol nhưng lại chứa nhiều chất
béo bão hòa thì cơ thể con người cũng có cơ làm gia tăng
hàm lượng cholesterol, như khi chúng ta dùng dầu dừa hay nước
cốt dừa để nấu ăn chẳng hạn.
Một phần cholesterol
khác, khoảng 20% tức khoảng 300 mg là do chúng ta ăn trực tiếp
các thực phẩm có nguồn gốc thịt động vật như là thịt,
cá, tôm, cua, sò ốc, trứng, bơ, sữa. v..v... Nên nhớ là các
thực phẩm có nguồn gốc thực vật không có cholesterol.
Cơ thể chúng
ta tự sản xuất đủ hàm lượng cholesterol cần thiết hàng
ngày, vì thế chúng ta phải ngăn ngừa không cho lượng cholesterol
lên cao qua việc điều hòa chế độ ăn uống [diet] bằng cách
loại bỏ tất cả thực phẩm có nguồn gốc thịt động vật
vì thịt động vật có hai thứ làm gia tăng LDL cholesterol (xấu),
là chất béo bão hòa saturated fat và cholesterol.
Tập thể dục
thường xuyên cũng như không hút thuốc, không uống rượu
và ăn một vài loại rau trái cây như cam, chuối, cà rốt,
khoai lang, bí ngô và tỏi, cũng có thể giúp tăng lượng HDL
cholesterol (tốt) trong máu.
Chất Béo Bão
Hòa (SATURATED FAT)
Loại bỏ các
thúc ăn có chứa cholesterol là một điều quan trọng, nhưng
có một điều quan trọng khác không kém là phải hạn chế
việc tiêu thụ chất béo bão hòa. Chất béo bão hòa cũng làm
gia tăng nhiều cholesterol xấu LDL. Chất béo bão hòa tìm thấy
nhiều nơi thịt, các thực phẩm bơ sữa và lòng đỏ trứng
gà. Cũng tìm thấy nơi dầu dừa, dầu palm, chocolate cùng các
bánh kẹo biến chế bán trên thị trường.
Triglycerides không
phải là cholesterol mà là chất béo [fats], được cung cấp
bởi các loại thực phẩm chúng ta ăn vào và cũng do cơ thể
chúng ta tự sản xuất ra qua tiến trình chuyển hóa năng lượng.
Triglycerides gồm có ba loại mà chúng ta được biết đến
qua danh từ y khoa là fatty acids hay phổ thông hơn là: (1) chất
béo bão hòa [saturated fats], (2) chất béo không bão hòa đơn
tính [monounsaturated fats], và (3) chất béo không bão hòa đa
tính [polyunsaturated fats].
Tất cả chất
béo chúng ta ăn từ bất cứ nguồn gốc thực phẩm nào cũng
chứa ba loại chất béo này, nhưng có hàm lượng khác nhau.
Phần lớn chất béo từ thực phẩm có nguồn gốc thịt động
vật là loại chất béo bão hòa. Chất béo từ thực phẩm
không có nguồn gốc thịt bao gồm cả ba loại.
Chất béo dùng
để tạo năng lượng hoạt động cho cơ thể. Mỗi gram chất
béo cung cấp 9 kilo ca lo ri, trong khi ấy mỗi gram chất đạm
[protein] hay chất carbohydrate [chất đường] cung cấp 4 kilo
ca lo ri. Số ca lo ri dư thừa sẽ được hoán đổi thành triglyceride
và dự trữ ở các mô tế bào dưới dạng mỡ.
Như trên đã trình
bầy, chất béo bão hòa là loại chất béo xấu vì nó có khuynh
hướng làm gia tăng lượng cholesterol xấu LDL trong máu. Ngược
lại chất béo không bão hòa ở cả hai dạng được xem là
chất béo tốt vì nó có khuynh hướng làm giảm lượng cholesterol
xấu LDL.
Hàm lượng tổng
cộng cholesterol, cholesterol tốt HDL, cholesterol xấu LDL và chất
béo triglycerides trong máu được đo lường để thẩm định
mức độ nguy hiểm báo trước có thể xảy ra chứng bệnh
nhồi máu cơ tim hay còn gọi là động tim (heart attack) và chứng
bệnh tai biến mạch máu não (stroke).
Như vậy lượng
cholesterol và triglycerides bao nhiêu gọi là cao? Theo Viện Quốc
Gia Tim, Phổi, Mạch Hoa Kỳ và Chương Trình Quốc Gia Giáo Dục
Cholesterol thì hàm lượng cholesterol và triglycerides được khuyến
cáo như sau:
| Tổng
Lượng Cholesterol |
Tinh
Trạng |
| Dưới
200 mg/dl |
Bình
thường |
| Từ
200 đến 239 mg/dl |
Ranh
giới cao |
| Từ
240 hay cao hơn |
Cao |
| HDL
CHOLESTEROL |
x |
| Từ
35 mg/dl trở lên |
Bình
thường |
| Dưới
35 mg/dl |
Không
tốt |
| LDL
CHOLESTEROL |
x |
| Dưới
130 mg/dl |
Bình
thường |
| Từ
130 đến 159 mg/dl |
Ranh
giới cao |
| Từ
160 mg/dl trở lên |
Cao |
| TRIGLYCERIDES |
x |
| Dưới
200 mg/dl |
Bình
thường (xem bên dưới) |
| Từ
200 đến 399 mg/dl |
Ranh
giới cao |
| Từ
400 đến 999 mg/dl |
Cao |
| Từ
1000 mg/dl trở lên |
Rất
cao |
| Tổng
Số Cholesterol / HDL |
Bằng
hay nhỏ hơn 5/1 là tốt |
Trước đây, các
nhà khoa học chỉ lưu tâm đến hàm lượng cholesterol trong
máu để thẩm định mức độ nguy hiểm có thể xảy ra chứng
bệnh đau tim và tai biến mạch máu não. Ngày nay họ đã nghiên
cứu và khám phá ra rằng hàm lượng triglycerides trong máu cao
cũng là dấu hiệu báo trước về bệnh tim mạch có thể xảy
ra.
Trong một nghiên
cứu khoa học, Bác sĩ Michael Miller, giám đốc cơ quan phòng
ngừa bệnh tim mạch tại University of Maryland Medical Center ở
Baltimore đã khảo cứu tình trạng chất béo triglycerides của
460 người nam và nữ ở lứa tuổi từ 30 đến 80 trong năm
1977 và 1978, và 199 bệnh nhân khác có kinh nghiêm về bệnh
tim mạch trong suốt 18 năm sau đó, đã thấy rằng cả hai phái
nam và nữ có lượng triglycerides trên 190 mg trong mỗi deciliter
máu dễ bị bệnh tim gấp hai lần những người có lượng
thấp hơn.
Nghiên cứu này
cho rằng lượng triglycerides có tình trạng bình thường như
trình bầy ở bảng nêu trên được xem là quá cao, không phù
hợp với những khám phá mới.
Lượng bình thường
chất béo triglycerides có trong máu được đề nghị là từ
35 đến 160 mg/dl.
Một nghiên cứu
khác được thực hiện bởi Bác sĩ Robert Rosenson, giám đốc
Preventive Cardiology Center at Rush Medical College ở Chicago cũng
xác nhận kết quả trên và cho biết thêm là triglycerides ở
mức lượng 190 mg/dl bắt đầu làm máu lưu chuyển chậm, cơ
tim phải hoạt động nặng nhọc hơn.
Thay đổi chế
độ ăn uống bằng cách giảm tất cả thực phẩm có chứa
chất béo [low fat diet], có thể làm giảm cholesterol, nhưng không
được nhiều. Chỉ có chế độ ăn thuần rau đậu ngũ cốc
trái cây, không ăn thịt cá, tôm cua sò hến và trứng bơ sữa
[vegan] là hữu hiệu nhất. Cholesterol trung bình của những
người này là 150 mg/dl. Chỉ riêng chất xơ [fiber] có trong
cám gạo, cám oat cũng có khả năng hữu hiệu làm giảm cholesterol.
Vitamin C, E và Beta Caroten có nhiều trong rau quả nhất là đậu
nành, cà rốt, khoai lang, broccoli và cam có tác dụng gia tăng
lượng cholesterol tốt, làm cho máu lưu chuyển dễ dàng và
loại trừ các cặn độc trong máu. Riêng đối với tỏi (garlic),
không những có tác dụng làm giảm tổng lượng cholesterol
mà còn có tác dụng hữu hiệu gia tăng hàm lượng HDL-cholesterol.
Những nghiên cứu mới đây của trường đại học y khoa New
York Medical College ở Valhalla cho biết, tỏi có khả năng làm
giảm từ 10 đến 29 phần trăm tổng lượng cholesterol, giảm
7,5 phần trăm LDL-cholesterol, giảm 20% triglycerides và gia tăng
31 phần trăm HDL-cholesterol.
Tuy nhiên, những
người ăn thực phẩm rau đậu thuần túy (vegan), làm việc
văn phòng, lại không thường xuyên tập thể dục, thường
có lượng chất béo triglycerides cao hơn bình thường (trên
190, có người cao tới gần 400). Ðiều này cũng dễ hiểu
vì hàm lượng triglycerides có liên hệ mật thiết với sự
thặng dư ca lô ri, bởi vì số ca lo ri không được tiêu dùng
hết sẽ được cơ thể chuyển đổi thành triglycerides. Chất
carbohydrate (chất đường) đóng một vai trò không nhỏ trong
việc gia tăng lượng trigycerides.
Như trên đã trình
bày, hàm lượng chất béo triglycerides cao trong máu cũng có
độ nguy hiểm về bệnh tim mạch như là cholesterol. Vì thế
những người ăn thực phẩm ra đậu, ngoài việc kiêng cữ
chất đường và dầu, cần phải tập thể dục thường xuyên
như là đi bộ nhanh hay tập aerobic bốn ngày một tuần và
mỗi lần khoảng 40 phút. Tập thể dục thường xuyên, ăn
nhiều rau trái cây có vitamin C, E và Beta Caroten cũng như là
tỏi, có tác dụng làm giảm chất béo triglycerides, đồng thời
lại có thể tăng thêm cholesterol tốt HDL và giảm cholesterol
xấu LDL.
TRANSFATTY ACIDS
Tưởng cũng nên
biết có một thứ chất béo tên gọi là transfatty acid, chưa
được sắp loại, vì nó không phải là chất béo bão hòa
hay chất béo không bão hòa. Nó được các nhà dinh dưỡng
gọi là mỡ ma (phantom fat) vì chưa được liệt kê vào nhãn
hiệu thực phẩm.
Transfatty acid được
hình thành khi các nhà biến chế thực phẩm biến đổi dầu
thảo mộc không bão hòa ở dạng thể lỏng sang dạng thể
cứng hay biến đổi thành loại dầu thảo mộc thương mại
có thể chiên nhiều lần và làm cho thực phẩm được dòn.
Khi dầu được biến đổi như vậy nó có tính chất giống
như chất béo bão hòa và vì thế trans-fatty acid có khuynh hướng
làm gia tăng lượng cholesterol xấu LDL, đồng thời làm giảm
lượng cholesterol tốt HDL, do đó gia tăng mức nguy cơ lâm bệnh
tim mạch.
Hiện nay trans-fatty
acid mằm trong thành phần monounsaturated fats hoặc không nằm
trong thành phần nào, nơi nhãn hiệu thực phẩm. Vì thế những
thực phẩm biến chế dưới dạng "deep fried" như chip, crackers,
cookies và pastries đều có loại dầu ma này, mặc dầu nhà
sản xuất quảng cáo là cholesterol free hay low saturated fats.
Bạn muốn biết hàm lượng mỡ ma này bao nhiêu, hãy làm con
toán. Thí dụ, nhãn hiệu thực phẩm potato chip ghi như sau:
Total fat: 15 grams
Polyunsaturated
fat: 5 grams
Saturated fat: 2
grams
Monounsaturated
fat: 1 gram
Như vậy, hàm lượng
còn lại 7 grams, chính là trans fatty acids (15 grams - 8 grams =
7 grams)
OMEGA-3 FATTY ACIDS
Fatty acids là những
đơn vị hóa chất căn bản của chất béo (fat). Nó có thể
là saturated, mono-unsaturated hay poly-unsaturated, tùy thuộc vào
số lượng phân tử atoms lập thành. Tất cả thực phẩm đều
có đủ ba loại fatty acids này, nhưng với hàm lượng khác
nhau.
Ðậu nành có
chứa một hàm lượng cao poly-unsaturated fatty acids và là nguồn
omega-3 fatty acids, có khả năng làm giảm lượng cholesterol xấu
LDL đồng thời làm gia tăng lượng cholesterol tốt HDL trong
máu. Nhiều nghiên cứu khoa học đã xác nhận tiêu thụ nhiều
omega-3 fatty acids có trong các loại thực vật như đậu nành,
hạt pumpkin, walnuts, hemp, flax và các lá rau xanh giúp chống
lại sự phát triển các căn bệnh về tim mạch. Tưởng cũng
nên biết omega-3 fatty acids còn gọi là alpha-linolenic acid, gồm
hai thứ EPA và DHA cũng có trong một vài loại cá biển và
trong fish-liver oil supplements. Những loại nầy cũng có khả
năng giống như omega-3 trong thực vật nhưng có thêm một cái
không tốt là nó có tác dụng làm cho các phân tử tế bào
cơ thể trở nên không ổn định, tức sản sinh ra các chất
oxygen free radicals là những chất gây ra ung thư và gây xáo
trộn chất insulin, sinh ra chứng tiểu đường. Vì thế các
khoa học gia thuộc Viện Ðại Học Arizona và Viện Ðại Học
Cornell đã công bố sự nguy hiểm của omega-3 fatty acid trong
cá và dầu cá. Ngoài ra những nghiên cứu dân số Eskimos ở
những vùng Greenland cho biết là tỷ xuất bệnh nhồi máu cơ
tim có thấp nhưng ngược lại bệnh tai biến mạch máu não
và bệnh xuất huyết mũi lại cao.
Phòng Ngừa Bệnh
Tim Mạch Bằng SOY PROTEIN
Một vài nghiên
cứu đầu tiên cho rằng protein đậu nành có tác dụng giảm
lượng cholesterol trong máu đã được thực hiện bởi Drs.
S.D. Koury và R.E. Hodges, M.D., thuộc University of Iowa Medical School,
vào những năm 1960s.
Gần mười năm
sau, vào năm 1977, Dr. C.R. Sirtori, M.D., thuộc University of Milan
đã nghiên cứu về sự tác dụng của protein đậu nành với
lượng cholesterol trong 1.000 bệnh nhân. Ông đã tìm thấy kết
quả là protein đậu nành đã làm giảm tổng lượng cholesterol
từ 8 đến 25 phần trăm và từ 15 đến 25 phần trăm hàm lượng
LDL cholesterol. Kết quả này không có liên hệ với chất béo
vì chất béo trước và sau thử nghiệm không thay đổi.
Trong suốt 25 năm
qua, kể từ khi những cuộc nghiên cứu đầu tiên hoàn thành,
nhiều nghiên cứu khác tiếp tục cũng cho những kết quả
tương tự. Dr. Kenneth Carroll thuộc University of Western Ontario,
Canada, đã lượng giá kết quả của 40 nghiên cứu khác nhau
về tác dụng protein đậu nành và cho biết là 34 nghiên cứu
đã cho thấy là cholesterol giảm trung bình 15 phần trăm.
Gần đây, một
nhóm các nhà nghiên cứu Italian đã nghiên cứu sự tác dụng
của protein đậu nành nơi những bệnh nhân có hàm lượng
cholesterol cao familial hypercholesterolemia. Ðây là những trường
hợp mà đa số cao vì di truyền. Các nghiên cứu gia áp dụng
chế độ dinh dưỡng low fat trong bốn tuần cho các bệnh nhân.
Kết quả cho biết hàm lượng cholesterol không thay đổi. Sau
đó họ thay thế hoàn toàn protein đậu nành cho các bệnh nhân.
Kết quả cho biết là hàm lượng cholesterol giảm 26 phần trăm.
Do kết quả tốt của những nghiên cứu này, Bộ Y Tế Quốc
Gia Italy đã quyết định cung cấp miễn phí protein đậu nành
cho tất cả bệnh viện điều trị cho bệnh nhân liên hệ
đến tim mạch.
Trong một nghiên
cứu khác, Dr. Susan Potter và các đồng nghiệp của bà thuộc
Viện Ðại Học University of Illinois đã thêm 50 grams protein
đậu nành vào dinh dưỡng trong bốn tuần và kết quả cho
thấy là hàm lượng cholesterol giảm thấy rõ. Với những người
thật cao cholesterol, chỉ cần thêm vào 25 grams protein đậu
nành cũng có kết quả tốt. Những kết quả này cũng tương
tự như kết quả tìm thấy tại Nhật Bản, khi họ cho thêm
20 grams protein đậu nành vào thực phẩm cho những người đàn
bà có tình trạng cholesterol bình thường. Sau một tháng, hàm
lượng cholesterol những người này giảm 10 phần trăm.
Một trong những
kết quả của những nghiên cứu mới nhất của University of
Kentucky đã được đăng tải bởi the New England Journal of Medicine
số ra ngày 3-8-1995. Bác sĩ James W. Anderson, M.D., giáo sư y khoa
và dinh dưỡng cùng các đồng nghiệp của ông đã dùng máy
vi tính phân tích 38 công trình nghiên cứu trong 7 năm thử nghiệm
730 người tình nguyện. Kết quả cho biết là cholesterol xấu
LDL giảm 13 phần trăm nhưng không làm giảm cholesterol tốt
HDL. Tiêu thụ 47 grams protein đậu nành một ngày trong một
tháng làm giảm 9,3 phần trăm LDL cholesterol.
