Ðậu
Nành Chống Ung Thư Vú Như Thế Nào
Như chúng ta đã
biết qua các chương trước, isoflavones và các hóa thảo khác
trong đậu nành có khả năng chống lại sự phát triển các
mầm ung thư trong cơ thể, xuyên qua kết quả nghiên cứu của
các nhà khoa học. Trong chương này chúng tôi sẽ trình bầy
chi tiết về sự khảo sát dân số và những thử nghiệm trong
phòng thí nghiệm, cũng của các nhà nghiên cứu, về sự liên
hệ giữa bệnh ung thư và việc tiêu thụ thực phẩm đậu
nành.
Các Quốc Gia Tiêu
Thụ Nhiều Ðậu Nành Ít Bị Ung Thư Vú
Nhìn bảng thống
kê nghiên cứu dưới đây, chúng ta thấy rằng những quốc
gia tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành có tỷ suất tử
vong về bệnh ung thư vú (breast cancer) và ung thư nhiếp hộ
tuyến (prostate cancer) thấp hơn nước Hoa Kỳ, nơi mà chế
độ dinh dưỡng không bao gồm thực phẩm đậu nành.
|
Country
|
Soy
Intake
(grams/day) |
Breast
Cancer
Rate
|
Prostate
Cancer
Rate
|
| Japan |
29,5
|
6,0
|
3,5
|
| Korea |
19,9
|
2,6
|
0,5
|
| Hong
Kong |
10,3
|
8,4
|
2,9
|
| China |
9,3
|
4,7
|
Unknown
|
| United
States |
Negligible
|
22,4
|
15,7
|
Rates
are age-adjusted; death are per 100.000 people
Sources:
Cancer Facts and Figures-1992. American Cancer Society. Atlanta, GA, 1992
Ở Nhật Bản,
tử suất về bệnh ung thư vú chỉ bằng một phần tư của
Hoa Kỳ; ở Trung Hoa, bằng một phần năm; và ở Ðại Hàn,
chỉ bằng một phần mười. Tử suất của Hoa Kỳ cũng còn
cao hơn Hong Kong ba lần, nơi mà tử suất về ung thư vú cao
nhất trong các quốc gia tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành.
Sự khác biệt tử suất giữa Hoa Kỳ và các quốc gia này
về bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến còn cao hơn nữa. Sự so
sánh khu vực dân số đã giúp các nhà khoa học học hỏi thêm
về tác dụng của thực phẩm đối với bệnh ung thư. Sự
kiện này cho thấy kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học
phù hợp với kinh nghiệm của các dân tộc tiêu thụ nhiều
thực phẩm đậu nành.
Dân Chúng Ăn Nhiều
Ðậu Nành Ít Bị Ung Thư Vú
Bảng trên cho
thấy dân số (population) tiêu thụ thực phẩm đậu nành, nhưng
còn cá nhân thì sao? Ðể trả lời câu hỏi này, chúng ta phải
lưu ý đến những cuộc nghiên cứu, gọi là "case-control studies",
là những cuộc nghiên cứu những nhóm người bị bệnh ung
thư so sánh với những nhóm người không bị bệnh ung thư
do sự khác biệt về chế độ dinh dưỡng.
Những nghiên cứu
liên hệ đến việc dinh dưỡng bằng thực phẩm đậu nành
này được thực hiện phần lớn ở các quốc gia Á Châu như
là Nhật Bản và
Trung Hoa.
Tại các quốc
gia Tây phương như Hoa Kỳ chẳng hạn, rất ít dân chúng ăn
thường xuyên và trường kỳ các thực phẩm đậu nành như
dân chúng ở các nước Á Châu, nên khó tìm được những
nhóm dân số thuần nhất để nghiên cứu. Ngược lại, dân
chúng Á Châu thường có những tập quán tương tự vế lối
sống và ăn uống, nên chúng ta có thể dễ dàng so sánh những
người tiêu thụ thực phẩm đậu nành và những người không.
Trong vòng hơn
hai mươi năm qua, hơn ba mươi cuộc nghiên cứu đã được
thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới và cung cấp những
dữ liệu quan trọng về sự liên hệ giữa việc tiêu thụ
thực phẩm đậu nành và bệnh ung thư. Hầu hết kết quả
cho thấy rằng những người ăn thực phẩm đậu nành thường
xuyên có tỷ suất về bệnh ung thư thấp hơn những người
không ăn hay ăn ít và không ăn thường xuyên thực phẩm đậu
nành.
Trong nhiều nghiên
cứu cho thấy rằng những người ăn thực phẩm đậu nành
hằng ngày giảm thiểu nguy cơ bị bệnh ung thư tới 50 phần
trăm so với những người không ăn hay chỉ ăn một hay hai
lần trong một tuần lễ. Nói một cách khác nếu bạn ăn thực
phẩm đậu nành một hay hai lần mỗi tuần, cơ hội bạn bị
bệnh ung thư nhiều gấp hai lần những người ăn thực phẩm
đậu nành hằng ngày.
Ảnh hưởng việc
tiêu thụ thực phẩm đậu nành không chỉ giới hạn một
hay hai loại ung thư mà còn có tác dụng trên nhiều thứ bệnh
ung thư, bao gồm các bệnh ung thư vú, kết tràng (colon), rectum,
phổi, và ung thư dạ dày (stomach cancer). Ðược biết là hầu
hết các cuộc nghiên cứu đều để ý đến sự tiêu thụ
các thực phẩm đậu nành dạng không lên men (nonfermented soyfoods)
như đậu hũ, protein đậu nành và sữa đâu nành. Tuy nhiên,
điều quan trọng nhất là, không có một chứng cớ nào cho
thấy tiêu thụ thực phẩm đậu nành lại sinh ra bệnh hay
gia tăng nguy cơ bị bệnh ung thư. Dưới đây là một vài kết
quả nghiên cứu:
Ung Thư Vú (breast
cancer)
Một nghiên cứu
ở Singapore so sánh 200 phụ nữ bị bệnh ung thư vú với 420
phụ nữ không bị bệnh ung thu vú cho thấy rằng những người
ăn nhiều thực phẩm đậu nành, khoảng 55 grams mỗi ngày,
ít bị nguy cơ lâm bệnh ung thư tới 50 phần trăm so với những
người không ăn hay ăn ít.
Ung Thư Kết Tràng
(Colon and Rectal Cancers)
Một nghiên cứu
ở Nhật bản cho thấy rằng những người ăn đậụ nành
hoặc đậu hũ đã giảm mức nguy cơ lâm bệnh rectal cancer
hơn 80 phần trăm. Ðậu nành và đậu hũ làm giảm nguy cơ
lâm bệnh ung thư kết tràng colon-cancer đến 40 phần trăm.
Trong nghiên cứu này, chỉ một hay hai serving đậu hũ mỗi
tuần được coi như là bảo vệ tốt.
Trung Hoa, chủ
thể nghiên cứu là những người ít ăn thực phẩm đậu nành
như đậu hũ, giá sống có độ nguy cơ về bệnh ung thư rectal
ba lần nhiều hơn những người ăn đậu hũ thường xuyên.
Ở Hoa Kỳ, ăn
đậu hũ giảm nguy cơ bị lâm bệnh ung thư kết tràng 50 phần
trăm.
Ung Thư Dạ Dầy
(Stomach Cancer)
Ở Trung Hoa, thường
xuyên uống sữa đậu nành có độ giảm nguy cơ bệnh ung thư
dạ dày đến 50 phần trăm so với những người không uống.
Ngoài ra một nghiên cứu khác cũng cho thấy những người ăn
đậu hũ và uống sữa đậu nành thường xuyên ít bị ung
thư dạ dày đến 40 phần trăm so với những người không
ăn hay ăn ít và không thường xuyên.
Những người
Hawaii gốc Nhật ăn đậu hũ có độ nguy cơ bệnh ung thư dạ
dày thấp hơn một phần ba những nguười không ăn đậu hũ.
Ung Thư Phổi (Lung
Cancer)
Một nghiên cứu
1.500 người đàn ông ở tỉnh Yunnan đã cho thấy rằng những
người thường xuyên ăn đậu hũ ít bị bệnh ung thư phổi
đến 50 phần trăm so với những người không ăn. Càng ăn
nhiều đậu hũ, độ nguy cơ lâm bệnh ung thư phổi cảng giảm.
Ở Hong Kong, một
nghiên cứu hơn 200 phụ nữ đã tìm thấy rằng những người
ăn đậu hũ và các thực phẩm đậu nành khác hàng ngày đã
giảm nguy cơ lâm bệnh ung thư phổi đến 50 phần trăm so sánh
với những người ăn 3 lần một tháng.
Ung Thư Nhiếp
Hộ Tuyến (Prostate Cancer)
Ở Hawaii, một
nghiên cứu 8000 người Hoa Kỳ gốc Nhật kéo dài hai mươi
năm, đã cho thấy rằng những người gốc Nhật ăn đậu hũ
một lần mỗi tuần hay ít hơn có độ nguy cơ lâm bệnh ung
thư nhiếp hộ tuyến nhiều hơn ba lần những người ăn đậu
hũ hàng ngày.
Thử Nghiệm Ðậu
Nành Trong Phòng Thí Nghiệm
Mùa Thu 1989, Viện
Ðại Học Alabama phổ biến một bản tin tức cho biết kết
quả cuộc thử nghiệm đậu nành và bệnh ung thư vú. Kết
quả cho thấy rằng nhóm chuột ăn đậu nành đã giảm 50 phần
trăm ung thư vú so với nhóm chuột không ăn. Kết quả này
dẫn đến những cuộc thử nghiệm khác và cung cấp dữ liệu
căn bản chứng minh rằng đậu nành có tác dụng ngăn ngừa
bệnh ung thư.
Ngoài ra, các cuộc
thí nghiệm súc vật khác trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy
rằng đậu nành nguyên hay các sản phẩm đậu nành có tác
dụng hữu hiệu ngăn ngừa bệnh ung thư gan, thận, dạ dày,
nhiếp hộ tuyến và vú.
Một loại thí
nghiệm khác, gọi là vitro study, tức là thí nghiệm các tế
bào ung thư trong ống kính hay đĩa kính, cũng cho những kết
quả tương tự. Một trong các thí nghiệm được xem là nổi
tiếng là cuộc thí nghiệm năm 1981 bởi các nhà khoa học thuộc
American Health Foundation ở New York.
Các khoa học gia
từ lâu đã biết rằng khi thịt bò bằm (ground beef) được
chiên nóng ở nhiệt độ cao, sẽ trở thành "mutagenic", tức
những chất có khả năng biến đổi genetic và gây nên tế
bào ung thư. Khi Dr. Wang và các khoa học gia đồng nghiệp của
ông ta thêm 10 phần trăm protein đậu nành vào thịt bò bằm
đã chiên, họ khám phá ra rằng protein đậu nành đã ngăn
chặn không cho lập thành chất mutagenic. Vì thế để có sức
khỏe tốt hơn bạn nên ăn ít thịt bò hay tốt nhất là nên
bỏ thịt bò và thay thế vào đó là protein đậu nành.
Trong các nghiên
cứu khác, bột đậu nành, protein đậu nành và các thực phẩm
đậu nành khác cho thấy rằng có chứa chất chống ốc xy
hóa, mà nó có tác dụng chiến đấu chống lại tế bào ung
thư.
Nhiều hơn nữa,
một nghiên cứu của các khoa học gia Nhật Bản cho biết rằng
các sản phẩm đậu nành bao gồm đậu hũ, sữa, miso (soy paste),
tương và protein, đều có tác dụng ngăn cản không cho lập
thành hóa chất nitrits, tức chất hóa học có thể kiến tạo
hay kích thích mầm ung thư.
Một nghiên cứu
khác của các nhà khoa học Nhật Bản cho biết miso, một loại
thức ăn phổ thông dưới dạng lên men của Nhật đã bảo
vệ cơ thể khỏi bị hư hoại của tia phóng xạ (radiation).
Theo Dr. Shinichiro Akizuki thuộc bệnh viện St. Francisco ở thành
phố Nagasaki, cho hay những bác sĩ nạn nhân của bom nguyên
tử đã không bị những hư hoại gây ra bởi phóng xạ vì
họ uống loại soup miso.
Các dữ liệu
nghiên cứu khoa học nêu trên cho chúng ta thấy rằng thực
phẩm đậu nành che chở cho chúng ta chống lại các căn bệnh
ung thư.
Trong những chương
trước chúng ta đã biết về giá trị dinh dưỡng của đậu
nành cũng như giá trị của các hóa thảo trong đậu nành về
phương diện y khoa phòng ngừa, và trong các chương kế chúng
ta sẽ thấy rằng thực phẩm đậu nành không những chỉ ngăn
ngừa bệnh ung thư mà còn phòng ngừa các chứng bệnh tim mạch
và một vài chứng bệnh thường xảy ra cho các nước Tây
phương như bệnh tiểu đường, bệnh xốp xương, bệnh thận.
