Các
Chất Chống Ung Thư Của Ðậu Nành
Hầu như
ai cũng biết, đậu nành có chứa rất nhiều protein, bao gồm
tất cả 8 loại amino acids thiết yếu. Ðậu nành cũng là nguồn
phong phú cung cấp calcium, chất xơ, chất sắt và chất sinh
tố B.
Tuy nhiên,
cái mà các khoa học gia thích thú nhất trong những năm nghiên
cứu gần đây là sự khám phá ra các hóa chất thảo mộc
mà chúng tôi gọi là hóa thảo (phytochemicals) trong đậu nành,
có đặc tính chống lại các mầm ung thư, (anticarcinogen).
Anticarcinogen,
là một hóa chất thảo mộc có khả năng ngăn cản sự phát
triển hoặc làm cho các mầm ung thư chậm phát triển.
Cũng nên
biết carcinogenesis là một tiến trình phát triển ung thư, gồm
có ba giai đoạn - giai đoạn bị nhiễm chất tạo ra mầm ung
thư (initiation), giai đoạn thúc đẩy hay khuyến khích (promotion),
tức là giai đoạn bị các chất khác kích thích và cổ võ
mầm ung thư phát triển, và giai đoạn phát triển (progression).
Một tế bào bị nhiễm mầm ung thư và được kích thích cho
tăng trưởng trở thành tế bào ung thư (cancer cell).
Ðể trao
đổi và đúc kết những khám phá mới về đậu nành trong
lãnh vực y khoa phòng ngừa, đặc biệt là ngăn ngừa và chữa
trị bệnh ung thư, nên Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National
Cancer Institute) ở Washington, DC, đã tổ chức hội nghị khoa
học vào ngày 27 tháng 6 năm 1990 quy tụ hầu hết các khoa học
gia của các tổ chức nghiên cứu và các viện đại học nổi
tiếng trên thế giới để thảo luận về tác dụng chống
ung thư của đậu nành. Các nhà khoa học tham dự hội nghị,
sau khi nghe phúc trình và thảo luận, đã đồng ý rằng có
những chứng cớ rõ rệt, là đậu nành có khả năng ngăn
ngừa bệnh ung thư, và họ xác định năm chất hóa thảo có
đặc tính chống lại mầm ung thư có trong đậu nành là: protease
inhibitors, phytate, phytosterols, saponins, và isoflavones.
Quả thật
là kỳ diệu, chỉ một hạt đậu nành nhỏ mà có chứa tới
năm chất hóa thảo chống mầm mống ung thư! Thực tế còn
có nhiều hơn thế, như là chất Bowman-Birk Inhibitor (BBI), chất
phenolic acids, chất lecithin, và omega-3 fatty acids,...v..v...
Trước đây,
một số trong năm chất trên, đặc biệt là phytate, được
xem là không tốt và thường được những người chịu ảnh
hưởng bởi các thế lực đối nghịch lấy cớ để yêu cầu
dân chúng đừng ăn thực phẩm đậu nành, nhưng bây giờ,
các khoa học gia đã cùng thừa nhận nó giúp chúng ta phòng
ngừa bệnh ung thư.
PROTEASE INHIBITORS
Gần bốn
mươi năm, protease inhibitors được xem như là một chất không
tốt về dinh dưỡng. Mãi đến năm 1980, Dr. Walter Troll thuộc
trường đại học y khoa New York University Medical Center đã khám
phá ra rằng đậu nành nguyên sơ có khả năng ngăn cản không
cho bệnh ung thư phát triển nơi các loài động vật, do tác
dụng của chất protease inhibitors. Tiếp theo sau đó, nhiều
khoa học gia khác đã khảo sát và thử nghiệm chất protease
inhibitors đậu nành trong phòng thí nghiệm và thấy rằng nó
có tác dụng chống lại sự phát triển mầm ung thư kết tràng
(colon), ung thư phổi, ung thư pancreas, và ung thư miệng.
Năm 1987,
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (National Cancer Institute) đã nghiêm
trọng nhìn vai trò của protease inhibitor như là một loại thuốc
chữa bệnh ung thư.
Protease inhibitors
ngăn ngừa sự tác động của một số genes di truyền gây
nên chứng ung thư. Nó cũng bảo vệ các tế bào cơ thể không
cho hư hại, gây nên bởi những môi trường xung quanh như tia
nắng phóng xạ và các chất free radicals, chất có thể tấn
công DNA.
Tuy nhiên,
protease inhibitors bị mất bớt đi sau khi đậu nành được
biến chế qua phương pháp làm nóng. Thí dụ như sữa đậu
nành loại dehydrated soymilk còn lại 41,4%, đậu hũ còn lại
0,9% so với bột đậu nành nguyên chất (raw soy flour).
PHYTATE
Hóa thảo
phytate là một hợp thể chất khoáng phosphorus và inositol. Giống
như hóa thảo protease inhibitors, phytate có một lịch sử lâu
dài không được thừa nhận là một chất dinh dưỡng và xem
nó như là một chất hóa học có tác dụng gắn kết chất
calcium và chất sắt trong ruột, ngăn cản sự hấp thụ của
chúng (binding minerals like calcium and iron in the intestins, keeping
them from being absorbed).
Bởi vì đậu
nành rất giầu chất phytate, nên trước đây, các nhà khoa
học cố tìm cách làm ra một loại đậu nành có chứa hàm
lượng phytate thấp, nhưng kết quả lại đổi khác. Họ đã
tìm thấy hóa thảo phytate không những có tác dụng ngăn ngừa
mầm ung thư mà còn có khả năng ngăn ngừa bệnh tim mạch.
Hai nhà nghiên
cứu khoa học là Drs. E. Graf và J.W. Eaton, đã cho biết rằng
những thực phẩm giầu chất phytate cũng thường có nhiều
chất xơ và những thực phẩm này bảo vệ chúng ta khỏi bị
bệnh ung thư kết tràng (colon cancer) không những vì chất xơ
mà còn vì hóa thảo phytate. Kết quả trong phòng thí nghiệm
cho thấy rằng phytate đã liên tiếp ngăn cản không cho bệnh
ung thư kết tràng phát triển và ngay cả ngăn cản không cho
phát sinh mầm ung thư vú. Ðiều này cũng dễ hiểu vì phytate
có tác dụng ngăn cản sự hấp thụ chất sắt trong ruột.
Free radicals,
một thứ chất cặn không ốc xy là chất rất phản động
và phá hoại (very reactive and destructive) luôn luôn tấn công
các tế bào, kể cả DNA. Chúng được xem là nguyên nhân sự
nảy mầm và phát triển không những bệnh ung thư mà còn bệnh
tiểu đường và bệnh xưng khớp xương arthritis. Chất sắt
(iron) sản sinh ra free radicals, nhưng khi có sự hiện diện của
hóa thảo phytate, chất sắt này sẽ bị hủy diệt khả năng
sản sinh và vì thế phytate hành xử giống như chất antioxydants,
như vitamin C và beta-carotene.
Cũng nên
biết, sau nhiều năm lưu ý dân chúng rằng phytate có thể gây
phương hại đến tình trạng thiếu chất sắt trong cơ thể
vì nó ngăn cản sự hấp thụ chúng, nay các nhà khoa học đã
khám phá ra rằng phytate bảo vệ chúng ta khỏi nạn có quá
nhiều chất sắt. Thặng dư chất sắt cũng là một trong nhiều
yếu tố ảnh hưởng nguy hại đến chứng bệnh nhồi máu
cơ tim (heart disease).
Ngoài việc
phòng ngừa free radicals, ngăn cản không cho mầm ung thư kết
tràng và ung thư vú, phytate cũng còn có khả năng ngăn ngừa
ung thư các loại bằng cách gia tăng hệ thống miễn nhiễm
qua việc gia tăng các hoạt động của các đơn vị tế bào
phòng vệ (natural killer cells), mà chúng có thể tấn công và
phá hủy các tế bào ung thư.
PHYTOSTEROLS
Phytosterols
có liên hệ với cholesterol. Tuy nhiên, cholesterol chỉ có nơi
các thực phẩm có nguồn gốc từ thịt động vật, ngược
lại, phytosterol chỉ có trong các thực phẩm rau đậu.
Không giống
như cholesterol, phytosterol có tác dụng ngăn ngừa các bệnh
về tim mạch qua việc giành chỗ thẩm thấu qua ruột của
cholesterol để vào máu, thành thử cholesterol không vào máu
được mà phải bài tiết ra ngoài, do đó số lượng cholesterol
trong máu bị giảm,
Nhiều nghiên
cứu khoa học đã cho thấy rằng, phytosterol đã làm giảm lượng
cholesterol trong máu, tuy nhiên tác dụng thay đổi tùy từng
cá nhân. Trong một nghiên cứu khác, lượng cholesterol của
một người giảm 12% và một người khác giảm 40%.
Cơ thể chúng
ta không hấp thụ dễ dàng phytosterol, vì thế nó được đẩy
ra ngoài qua đường ruột. Sự kiện này đã giúp kết tràng
(colon) khỏi bị tác dụng của muối mật. Trong phòng thử
nghiệm, phytosterol đã giảm độ phát triển các mụn ung thư
kết tràng đến 50 phần trăm và chống lại ung thư da.
Những nhóm
dân số tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành như Nhật Bản,
những người ăn chay, và Giáo Hội Cơ Ðốc Phục Lâm Seventh-Day
Adventists đã có tỷ xuất thấp về bệnh ung thư kết tràng
(colon cancer).,. Cũng nên biết người Tây phương tiêu thụ
80 mg phytosterol một ngày, trong khi đó người Nhật Bản tiêu
thụ khoảng 400 mg một ngày.
SAPONINS
Giống như
phytate, saponin là một loại hóa thảo có đặc tính giống
như chất chống ốc xít hóa (antioxydant), bảo vệ tế bào
cơ thể chúng ta khỏi bị hư hại do tác dụng free radicals.
Nó cũng còn có khả năng trực tiếp ngăn cản sự phát triển
ung thư kết tràng và đồng thời làm giảm lượng cholesterol
trong máu. Cũng nên biết những nhóm người ăn chay và những
dân tộc Á châu ăn nhiều thực phẩm đậu nành, thường có
tỷ lệ thấp căn bệnh ung thư kết tràng so với người Tây
phương.
PHENOLIC ACIDS
Phenolic acid
là một hóa thảo chống ốc xi hóa anti-oxidants và phòng ngừa
các nhiễm sắc thể DNA khỏi bị tấn công bởi các tế bào
ung thư.
LECITHIN
Lecithin là
một hóa thảo quan trọng, đóng một vai trò quyết định trong
việc kích thích sự biến dưỡng ở khắp các tế bào cơ
thể. Nó có khả năng làm gia tăng trí nhớ bằng cách nuôi
dưỡng tốt các tế bào não và hệ thần kinh, nó làm vững
chắc các tuyến và tái tạo các mô tế bào cơ thể. Nó cũng
có công năng cải thiện hệ thống tuần hoàn, bổ xương,
và tăng cường sức đề kháng. Khi hệ thần kinh thiếu năng
lượng, chất lecithin ở đậu nành sẽ phục hồi năng lượng
đã mất. Ðạm chất đậu nành có chứa 3 phần trăm chất
lecithin, bằng với lượng lecithin có trong lòng đỏ trứng
gà.
Ngoài ra,
lecithin cũng có tác dụng giảm lượng cholesterol trong máu.
Trong một nghiên cứu, Dr. Lister Morrison thử nghiệm 36 grams
soy lecithin cho một người và kết quả cho thấy lượng cholesterol
trong máu giảm 30 phần trăm. Một thí nghiệm khác cũng cho
kết quả tương tự. Tuy nhiên, một điều nên biết là trung
bình người dân Hoa Kỳ tiêu thụ hàng ngày khoảng 3 grams licithin,
cho nên, dù cho lecithin có làm giảm choleterol nhưng phải với
một lượng thật lớn và trường kỳ, điều này không dễ
áp dụng.
Bowman-Birk
Inhibitor (BBI)
BBI là một
hóa thảo mới nhất tìm thấy trong đậu nành, có khả năng
ngăn cản tiến trình phát triển mầm ung thư. Trong nhiều năm
qua, các nhà khoa học đã thử nghiệm và thành công nơi các
mẫu tế bào trong ống thử nghiệm và trong các thú vật qua
cả hai dạng tinh chế PBBI (Purified BBI) và cô đặc BBIC (BBI
Concentrate).
Theo báo cáo
kết quả tường trình tại hội nghị khoa học thế giới
về vai trò của đậu nành trong việc phòng bệnh và trị bệnh,
tổ chức tại Brussells, Belgium ngày 15-18 tháng 09 năm 1996, thì
PBBI và BBIC đã chế ngự được sự phát triển tiến trình
ung thư miệng, vú, ruột già, gan, phổi, và thực quản (esophagus),
cả nơi các tế bào trong ống thử nghiệm lẫn nơi các con
chuột bạch và chuột đồng. Họ cho biết PBBI và BBIC không
có tác hại ở liều lượng dùng để chống lại ung thư.
Hiện nay chất này đã được dùng trong con người ở vài
trung tâm nghiên cứu và kết quả sơ bộ rất là khả quan.
BBIC đã được thẩm định là loại thuốc mới bởi cơ quan
F.D.A (IND # 34671; sponsor Ann R. Kennedy, University of Pennsylvania
of Medicine, Philadelphia, PA April 1992).
Cũng nên
biết là tại trường đại học University of California, Irvine,
BBIC đã được áp dụng kể từ đầu năm 1997, trong việc
phòng ngừa ung thư miệng, dưới sự bảo trợ bởi Viện Ung
Thư Quốc Gia Hoa Kỳ.
OMEGA-3 FATTY
ACIDS
Omega-3 fatty
acid là loại chất béo không bão hòa (unsaturated fats) có khả
năng làm giảm lượng cholesterol xấu LDL đồng thời làm gia
tăng lượng cholesterol tốt HDL trong máu. Nhiều nghiên cứu
khoa học đã xác nhận tiêu thụ nhiều omega-3 fatty acids có
trong các loại thực vật như đậu nành, hạt pumpkin, walnuts,
hemp, flax và các lá rau xanh giúp chống lại sự phát triển
các căn bệnh về tim mạch. Tưởng cũng nên biết omega-3 fatty
acids còn gọi là alpha-linolenic acid, gồm hai thứ EPA và DHA
cũng có trong một vài loại cá biển và trong fish-liver oil supplements,
nó cũng có những khả năng giống như omega-3 trong thực vật
nhưng có thêm một cái không tốt là nó có tác dụng làm cho
các phân tử tế bào cơ thể trở nên không ổn định, tức
sản sinh ra các chất oxygen free radicals là những chất gây
ra ung thư và gây xáo trộn chất insulin, sinh ra chứng tiểu
đường. Vì thế các khoa học gia thuộc Viện Ðại Học Arizona
và Viện Ðại Học Cornell đã công bố sự nguy hiểm của
omega-3 fatty acid trong cá và dầu cá.
Ngoài những
hóa thảo có công năng ngăn ngừa bệnh tim mạch và ung thư
nêu trên, trong đậu nành còn có một chất mà nó đã làm
say mê biết bao nhà khoa học nghiên cứu về đậu nành. Chất
đó là isoflavones mà chúng tôi dành nguyên một chương để
nói về hóa thảo kỳ diệu này.
